Gánh nặng bệnh thận và áp lực điều trị
Thứ ba , 13/01/2026 10:59
Thứ ba , 13/01/2026 10:59
Bệnh thận mạn đang là một thách thức y tế nghiêm trọng tại Việt Nam, cả về số lượng người mắc lẫn những hệ lụy về mặt xã hội kéo theo.
Điều trị cho bệnh nhân suy thận tại Bệnh viện Bạch Mai. Ảnh: BVCC
Các số liệu chuyên ngành cho biết, tại Việt Nam hiện nay có khoảng 7 triệu người trưởng thành bị bệnh thận mạn, chiếm gần 13% dân số. Mỗi năm, ước tính hơn 30.000 trường hợp tiến triển đến giai đoạn cuối, khi chức năng thận gần như không còn và bệnh nhân cần lựa chọn phương pháp điều trị thay thế. Số lượng người bị suy thận mạn giai đoạn cuối có thể lên tới 800.000 người, nhưng chỉ có từ 5 - 10% trong số này được tiếp cận đầy đủ với các phương pháp điều trị phù hợp.
Khoảng cách lớn giữa nhu cầu điều trị và khả năng đáp ứng của hệ thống y tế đang trở thành áp lực rõ rệt. Hiện nay, điều trị thay thế thận tại Việt Nam mới chỉ đáp ứng được khoảng 30 - 40% nhu cầu thực tế. Phần lớn bệnh nhân phải dựa vào chạy thận nhân tạo tại các bệnh viện, phương pháp này chiếm khoảng 75% tổng số ca điều trị. Trong khi đó, số lượng người được ghép thận hoặc sử dụng các phương pháp điều trị khác vẫn rất hạn chế.
Thực tế nêu trên cho thấy, khi cơ sở hạ tầng điều trị còn nhiều hạn chế, thách thức trong điều trị bệnh thận mạn không chỉ nằm ở việc tăng cường số lượng máy móc hay giường bệnh, mà còn ở việc tìm ra những giải pháp điều trị bền vững và hợp lý hơn cho tương lai.
Theo các chuyên gia, để vận hành một đơn vị chạy thận nhân tạo phục vụ khoảng 300 bệnh nhân, cần có sự hỗ trợ từ 45 - 50 nhân viên y tế và khoảng 50 máy lọc máu, chưa kể đến các hệ thống xử lý nước, vật tư tiêu hao và chi phí vận hành định kỳ. Đối với các bệnh viện tuyến tỉnh hoặc khu vực, nơi còn thiếu thốn về nguồn lực, việc mở rộng quy mô lọc máu là một thách thức lớn. Trong khi đó, số lượng bệnh nhân mới vẫn không ngừng gia tăng hàng năm, làm tình trạng quá tải ngày càng trở nên khó kiểm soát.
TS.BS Nghiêm Trung Dũng - Giám đốc Trung tâm Thận – Tiết niệu và Lọc máu (Bệnh viện Bạch Mai) nhận định rằng, bệnh thận mạn là một bệnh lý kéo dài suốt đời, đòi hỏi cách tiếp cận đồng bộ và bền vững. Theo đó, nếu chỉ dựa vào chạy thận nhân tạo tại bệnh viện, hệ thống y tế sẽ khó có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn. Thay thế thận cần được xem xét như một bài toán tổng thể, trong đó các phương thức điều trị được áp dụng phù hợp với đặc điểm của từng nhóm bệnh nhân.
Hiện nay, tại Việt Nam, các phương pháp điều trị thay thế thận bao gồm ba loại chính: chạy thận nhân tạo, lọc màng bụng và ghép thận. Trong đó, chạy thận nhân tạo vẫn chiếm ưu thế, trong khi lọc màng bụng và ghép thận chưa được khai thác đúng mức. Đặc biệt, phương pháp lọc màng bụng – nhất là việc thực hiện tại nhà – được chuyên gia đánh giá là giải pháp vừa giúp giảm tải cho bệnh viện vừa mang lại lợi ích thiết thực cho người bệnh.
BS Dũng cho biết thêm, nếu được chỉ định đúng và bệnh nhân tuân thủ quy trình điều trị hợp lý, hiệu quả của lọc màng bụng có thể tương đương với chạy thận nhân tạo.
Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân lựa chọn lọc màng bụng tại Việt Nam vẫn còn khá thấp. Ngoài tâm lý lo ngại từ phía bệnh nhân và gia đình, hạn chế này còn xuất phát từ các vấn đề liên quan đến cơ chế chính sách, hướng dẫn chuyên môn cũng như hệ thống hỗ trợ kỹ thuật. Điều trị tại nhà đòi hỏi mạng lưới giám sát, tư vấn và hỗ trợ thường xuyên từ cơ sở y tế – một mô hình vẫn chưa được triển khai đồng bộ trên cả nước.
Từ góc nhìn chính sách y tế, áp lực điều trị trong bệnh thận mạn đòi hỏi sự chuyển đổi mô hình phù hợp, theo hướng cân bằng và bền vững hơn. Không chỉ mở rộng quy mô chạy thận nhân tạo tại bệnh viện, mà cần đa dạng hóa các phương thức điều trị thay thế thận. Điều này phải đi cùng với việc quản lý chặt chẽ các bệnh mạn tính và nâng cao khả năng phát hiện sớm từ các tuyến cơ sở.
Đức Trân
Nguồn: daidoanket.vn
Bài viết gốc: Xem tại đây