Cải cách kỳ thi và bài toán giáo dục ngoại ngữ
Thứ ba , 03/03/2026 15:42
Thứ ba , 03/03/2026 15:42
Việc TOEFL iBT đổi mới theo hướng đánh giá năng lực học thuật thực chất từ đầu năm 2026 được kỳ vọng sẽ tiệm cận hơn yêu cầu giáo dục quốc tế. Song trong bối cảnh dạy và học tiếng Anh tại Việt Nam còn nặng về luyện thi, cải cách này cũng đặt ra không ít thách thức cho người học và hệ thống đào tạo.
Trong nhiều năm qua, TOEFL iBT là một trong những chứng chỉ tiếng Anh phổ biến tại Việt Nam. Với không ít học sinh, sinh viên, kỳ thi này không chỉ mang ý nghĩa đánh giá năng lực ngoại ngữ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ hội du học, xét học bổng, tốt nghiệp đại học, tuyển dụng... Do đó, mọi thay đổi liên quan đến TOEFL đều tạo ra tác động lan tỏa trong xã hội.
Theo định hướng mới, TOEFL iBT giảm bớt sự khuôn mẫu trong cách ra đề và tăng cường đánh giá khả năng sử dụng tiếng Anh trong môi trường học thuật. Thí sinh không chỉ cần nắm vững ngôn ngữ, mà còn phải thể hiện tư duy, khả năng lập luận, tổng hợp thông tin và giao tiếp học thuật. Cách tiếp cận này nhằm phản ánh sát hơn năng lực thực chất của người học trong bối cảnh giáo dục đại học toàn cầu.
Ở góc độ tích cực, cải cách này được kỳ vọng sẽ giúp kết quả thi phản ánh đúng hơn khả năng học tập và nghiên cứu của thí sinh. Khi tiếng Anh ngày càng trở thành công cụ học tập và làm việc, việc đánh giá năng lực không thể chỉ dừng lại ở điểm số, mà cần cho thấy người học có thể đọc hiểu tài liệu chuyên ngành, viết bài luận và tham gia thảo luận học thuật như thế nào.
Tuy nhiên, khi đặt trong thực tiễn giáo dục Việt Nam, cải cách TOEFL iBT cũng làm bộc lộ một số vấn đề. Việc dạy và học tiếng Anh lâu nay vẫn nặng về luyện thi, đặc biệt với các chứng chỉ quốc tế. Không ít khóa học được thiết kế xoay quanh dạng bài và chiến thuật làm đề nhằm tối ưu hóa điểm số. Cách tiếp cận này có thể mang lại kết quả trước mắt, nhưng lại ít giúp người học hình thành năng lực sử dụng tiếng Anh bền vững.
Khi tiếng Anh ngày càng trở thành công cụ học tập và làm việc, người học cần thể hiện rõ việc đọc hiểu, thảo luận, thuyết trình. Trong ảnh: Học sinh Trường Phổ thông Duy Tân (phường Bình Kiến) tự tin trình bày bằng Tiếng Anh với các nội dung môn học. Ảnh: Trung Hiếu
Thực tế cho thấy, không hiếm sinh viên đạt chuẩn TOEFL đầu ra của các trường nhưng vẫn lúng túng khi viết email học thuật, trình bày đề tài chuyên môn trước lớp hoặc hội đồng, hay tham gia thảo luận bằng tiếng Anh. Khoảng cách giữa điểm thi và năng lực sử dụng phản ánh rõ giới hạn của cách học thiên về kỹ thuật làm bài, đồng thời đặt ra câu hỏi về hiệu quả thực chất của việc đào tạo ngoại ngữ hiện nay.
Tại nhiều trường đại học, chứng chỉ tiếng Anh quốc tế hiện vẫn được xem là chuẩn đầu ra bắt buộc. Tuy nhiên, chương trình đào tạo tiếng Anh trong trường lại chưa theo kịp những thay đổi của các kỳ thi chuẩn hóa. Điều này đang tạo ra áp lực đáng kể cho người học khi chuẩn đánh giá ngày càng cao.
Bên cạnh đó, cải cách TOEFL iBT cũng làm rõ vấn đề chênh lệch về điều kiện tiếp cận giáo dục. Học sinh ở các đô thị lớn có lợi thế hơn về giáo viên, tài liệu và môi trường học tập. Trong khi đó, học sinh ở nông thôn, vùng sâu gặp nhiều trở ngại trong việc thích ứng với phương pháp học mới. Nếu không có giải pháp hỗ trợ phù hợp, cải cách thi cử rất dễ vô tình làm gia tăng khoảng cách trong cơ hội học tập.
Nhìn từ góc độ dài hạn, đổi mới TOEFL iBT có thể trở thành động lực thúc đẩy cải cách giáo dục ngoại ngữ trong nước. Để cải cách này phát huy ý nghĩa, cần có sự điều chỉnh đồng bộ: các cơ sở giáo dục cần thiết kế lại chương trình đào tạo tiếng Anh theo hướng gắn với kỹ năng học thuật; người học cần chuyển từ mục tiêu đạt chứng chỉ sang sử dụng tiếng Anh như một công cụ học tập lâu dài...
Có thể nói, TOEFL iBT đổi mới không chỉ là sự thay đổi của một kỳ thi quốc tế, mà còn là phép thử đối với cách tiếp cận giáo dục ngoại ngữ tại Việt Nam. Cải cách này sẽ chỉ thực sự có giá trị khi hệ thống đào tạo thay đổi. Khi đó, chứng chỉ tiếng Anh sẽ không còn là đích đến duy nhất, mà trở thành kết quả tự nhiên của một quá trình học tập thực chất và bền vững.
Minh Khuê
Nguồn: “Báo Đắk Lắk Điện tử”
Bài viết gốc: Xem tại đây