Xu thế carbon xanh dương
Thứ hai , 01/06/2026 15:04
Thứ hai , 01/06/2026 15:04
Không chỉ đóng vai trò tăng khả năng chống chịu khí hậu, thực hiện các cam kết quốc tế, carbon xanh dương được hấp thụ và lưu trữ lâu dài trong các hệ sinh thái biển, ven biển còn tăng cường thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển, đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm.
Carbon rừng ngập mặn của Việt Nam nhận được sự quan tâm của các đối tác quốc tế trong việc lượng hóa tín chỉ carbon. Ảnh: Hạ Lan
Tiềm năng, giá trị lớn
Giới chuyên gia môi trường cho biết, carbon xanh dương là carbon được hấp thụ và lưu trữ trong các hệ sinh thái biển và ven biển như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và bãi triều ven biển. Nghiên cứu khoa học cho thấy, các hệ sinh thái này có thể hấp thụ carbon trung bình cao gấp 2-4 lần và khả năng lưu trữ tổng thể có thể gấp tới 10 lần so với rừng trên cạn, giúp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, bảo vệ bờ biển, bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì sinh kế cho cộng đồng ven biển.
Trong khi đó, tín chỉ carbon xanh dương gồm carbon hấp thụ từ rừng ngập mặn, đầm lầy ven biển, bãi triều và cỏ biển, có tiềm năng lưu trữ tự nhiên tạo ra một lượng lớn khí carbon. Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia dẫn đầu thế giới về rừng ngập mặn, với diện tích khoảng 200.000 ha. Và vài năm trở lại đây, bên cạnh tín chỉ carbon rừng cạn, nhiều nhà đầu tư đã chuyển hướng sang tín chỉ carbon xanh dương, loại carbon hấp thụ từ các hệ sinh thái biển.
Chuyên gia môi trường, PGS.TS Lưu Thế Anh - Viện trưởng Viện Tài nguyên môi trường (Đại học quốc gia Hà Nội) chia sẻ, Việt Nam có tiềm năng carbon xanh dương vô cùng lớn khi sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.200 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2. Nước ta còn là một trong những trung tâm đa dạng sinh học biển quan trọng của thế giới với 6 vùng đa dạng sinh học biển chính, bao trùm từ vịnh Bắc Bộ đến vùng biển Trường Sa. Theo chuyên gia, hệ sinh thái ven biển như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô đều là những bể chứa carbon xanh dương đầy tiềm năng, nhưng để hiện thực hóa giá trị này đòi hỏi điều kiện tiên quyết: bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển.
Hướng tới phát triển kinh tế bền vững
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành, những tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn, suy giảm đa dạng sinh học biển, xói lở bờ biển đang trực tiếp đe dọa đến sinh kế, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước và sự phát triển bền vững của hàng triệu người, đặc biệt là những người dân ven biển. Chính vì vậy, đối với Việt Nam, một quốc gia ven biển, việc bảo vệ, phát triển hệ sinh thái carbon xanh dương không chỉ là yêu cầu về môi trường, mà còn là định hướng chiến lược để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển, tăng cường khả năng chống chịu khí hậu và thực hiện các cam kết quốc tế.
Đồng quan điểm, bà Ramla Khalidi - Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam chia sẻ, Việt Nam với đường bờ biển dài, hệ sinh thái carbon xanh dương của Việt Nam, trong đó có rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và vùng ngập nước ven biển đóng vai trò rất quan trọng trong sinh kế cũng như là bảo vệ vùng bờ biển cho đất nước. Đồng thời có tiềm năng thu hút đầu tư môi trường, đóng góp cho mục tiêu phát triển kinh tế bền vững. Không những thế, điều này còn đem lại khả năng chống chịu bền bỉ trước những cú sốc về môi trường. Vị Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam nhấn mạnh, hệ sinh thái carbon xanh dương với nhà nông, đó là một vườn ươm để phát triển và thu hoạch thủy sản, là một nguồn thu nhập quan trọng. Với chính quyền địa phương, đây là một lá chắn, tấm khiên sống, một vùng đệm để bảo vệ các công trình giao thông, hạ tầng, nhà cửa khỏi những cơn bão, gió lớn tàn phá. Đối với nhà đầu tư tư nhân, nơi đây mở ra tiềm năng thu giữ carbon rất tốt. Với Việt Nam, đây là một bước rất quan trọng để hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0.
Trong khi đó, theo nhận định của giới chuyên gia môi trường, trên thực tế, thách thức lớn nhất chính là giải quyết sự xung đột với mục tiêu phát triển kinh tế. Các khu bảo tồn thường được đặt tại nơi có nguồn lợi tự nhiên dồi dào, đồng nghĩa với nguy cơ bị khai thác quá mức. Điều này làm cho hệ sinh thái sẽ nhanh chóng suy giảm, làm mất đi khả năng hấp thụ carbon vốn có. Do đó, việc xây dựng các khu bảo tồn biển cần xác định được mục tiêu cụ thể của việc bảo tồn và tìm giải pháp để hài hòa với hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt là đảm bảo sinh kế cho cộng đồng ven biển.
ThS. Nguyễn Văn Thị, Đại học Lâm nghiệp cho biết, thực tế cho thấy, các hoạt động phát triển nông nghiệp và thủy sản có nguy cơ làm suy thoái rừng ngập mặn, gây tổn thất đáng kể đến trữ lượng carbon và chức năng sinh thái. Do vậy việc cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên là một bài toán khó đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương.
Minh Quân
Nguồn: daidoanket.vn
Bài viết gốc: Xem tại đây