Khơi thông nguồn lực du lịch Việt cho tăng trưởng hai con số
Thứ ba , 02/06/2026 16:21
```
Thứ ba , 02/06/2026 16:21
Du lịch Việt Nam cần chuyển từ tăng trưởng số lượng sang giá trị cao, lấy công nghệ, dữ liệu và trải nghiệm xanh làm động lực phát triển mới.
Trong bối cảnh Tổ chức du lịch thế giới thúc đẩy mạnh mẽ chương trình chuyển đổi “Du lịch xanh - chuyển đổi số - có khả năng phục hồi” giai đoạn hậu đại dịch, ngành du lịch toàn cầu đang bước vào một cuộc tái cấu trúc chưa từng có.
Năm 2024, lượng khách quốc tế toàn cầu đã phục hồi gần mức trước COVID-19 với hơn 1,4 tỷ lượt khách, nhưng trọng tâm cạnh tranh đã chuyển mạnh từ “du lịch số lượng” sang “du lịch giá trị cao”, lấy dữ liệu, công nghệ, trải nghiệm, an toàn và khả năng chống chịu làm nền tảng cốt lõi. Xu thế này đặc biệt tương thích với khát vọng phát triển của Việt Nam trong “kỷ nguyên mới” - nơi tăng trưởng hai con số không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà còn là yêu cầu chiến lược để đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Du khách tham quan VinWonders Nha Trang trên đảo Hòn Tre. Ảnh: KS.
Theo đó, du lịch Việt Nam cần được tái định vị từ “ngành dịch vụ tiêu dùng” thành “hệ sinh thái kiến tạo phát triển quốc gia”, có khả năng dẫn dắt chuyển đổi số, kích hoạt kinh tế sáng tạo, thúc đẩy kinh tế biển xanh và lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia. Trong mô hình phát triển mới, AI, dữ liệu lớn, nền tảng số, công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo sẽ trở thành các động lực tăng trưởng mới của du lịch Việt Nam.
Việc đề xuất xây dựng mô hình “Quốc gia du lịch thông minh - xanh - sáng tạo - tích hợp”, gắn với cải cách thể chế, chính sách visa thế hệ mới, nền tảng dữ liệu du lịch quốc gia, các đặc khu kinh tế du lịch và hệ sinh thái “AI-native” cho ngành du lịch. Đồng thời, du lịch biển đảo, kinh tế tuần hoàn và thương hiệu “An toàn Việt Nam” cần được xem là cấu phần chiến lược của an ninh kinh tế và chủ quyền quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị mới.
Tinh thần xuyên suốt theo đúng định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về “huy động mọi nguồn lực phát triển, khơi thông các động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Khi các nguồn lực thể chế, dữ liệu, văn hóa, công nghệ và con người được tích hợp đồng bộ, du lịch có thể trở thành một trong những động lực chiến lược quan trọng nhất đưa Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên hùng cường và thịnh vượng của dân tộc Việt.
Tái định vị du lịch việt: Từ ngành dịch vụ đơn lẻ đến hệ sinh thái kiến tạo phát triển Quốc gia
Sự thay đổi bản chất cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi Việt Nam cần kết thúc tư duy quản lý du lịch theo ranh giới ngành dọc truyền thống để chuyển sang mô hình "hệ sinh thái trải nghiệm thông minh - xanh - dữ liệu hóa". Du lịch phải được nhìn nhận có sức lan tỏa mạnh mẽ, đóng vai trò hạt nhân kích hoạt đồng thời năng lực số, sức mạnh mềm văn hóa và an ninh chiến lược quốc gia.
Mô hình tăng trưởng du lịch dựa trên số lượng khách đại trà và khai thác thô tài nguyên thiên nhiên đang dần chạm tới giới hạn chịu tải của môi trường và xã hội. Sự bùng nổ kinh tế trải nghiệm toàn cầu cho thấy cảnh quan đơn thuần không còn đủ để duy trì lợi thế cạnh tranh dài hạn, thay vào đó là năng lực kiến tạo cảm xúc và cá nhân hóa dịch vụ dựa trên tri thức. Việc chuyển dịch từ "du lịch số lượng" sang "du lịch giá trị" (high-value tourism) đang là một cuộc chạy đua, nơi các quốc gia tiên phong tập trung tối ưu hóa mức chi tiêu và kéo dài thời gian lưu trú của du khách.
Du lịch phải được nhìn nhận có sức lan tỏa mạnh mẽ, đóng vai trò hạt nhân kích hoạt đồng thời năng lực số, sức mạnh mềm văn hóa và an ninh chiến lược quốc gia. Ảnh: Diệp Anh.
Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới đòi hỏi một cuộc cải cách về mặt nhận thức lý luận lẫn thực tiễn điều hành chính sách. Ngành du lịch quốc gia cần chuyển đổi mạnh mẽ dựa trên mô hình phát triển do khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo dẫn dắt (STI-led development). Khi sức ép từ các rủi ro địa chính trị và biến đổi khí hậu gia tăng, việc xây dựng năng lực chống chịu và tự chủ kinh tế thông qua chuỗi giá trị du lịch nội địa trở thành nhiệm vụ cốt lõi.
Sự lan tỏa kinh tế từ du lịch có tính chất vượt trội nhờ khả năng liên kết chuỗi giá trị xuyên suốt từ hàng không, logistics, thương mại số đến công nghiệp văn hóa và dịch vụ đô thị, nông thôn. Ước tính từ các định chế quốc tế cho thấy, cứ một đơn vị giá trị gia tăng trực tiếp từ du lịch sẽ kích ứng thêm từ hai đến ba đơn vị giá trị gián tiếp cho các ngành phụ trợ cấu thành nền kinh tế. Do đó, việc đặt du lịch vào vị trí trung tâm của quy hoạch không gian đô thị và các hành lang kinh tế biển sẽ tạo ra một xung lực mới, giải phóng các điểm nghẽn về hạ tầng chiến lược vùng.
Khơi thông nguồn lực thể chế và quản trị hệ thống trong kỷ nguyên số
Thể chế và năng lực quản trị quốc gia chính là "hạ tầng mềm" đóng vai trò tiên phong, mở đường cho việc giải phóng mọi nguồn lực đầu tư liên ngành. Để dẫn dắt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần một bước nhảy vọt về chính sách visa mở, xây dựng hành lang pháp lý thử nghiệm cho công nghệ du lịch mới và thiết lập kiến trúc dữ liệu quốc gia thống nhất.
Trong kỷ nguyên cạnh tranh số, lợi thế không thuộc về các quốc gia giàu tài nguyên thô mà thuộc về những nền kinh tế sở hữu môi trường thể chế linh hoạt, có độ thích ứng cao. Hệ thống chính sách quản lý hiện tại của Việt Nam có lúc, có nơi còn phân mảnh, thiếu cơ chế điều phối liên ngành hiệu quả dẫn đến lãng phí nguồn lực dữ liệu. Chuyển đổi sang mô hình "mở" thông minh đòi hỏi sự tích hợp toàn diện quy trình xử lý thị thực điện tử đa mục đích, thiết lập các cơ chế đặc thù như thị thực cho lao động từ xa và thị thực đổi mới sáng tạo để thu hút dòng tiền và nhân tài quốc tế.
Dữ liệu phải được xác lập là nguồn tài nguyên chiến lược quốc gia, là dòng máu vận hành hệ thống điều hành thông minh. Việc xây dựng nền tảng dữ liệu du lịch quốc gia liên thông thời gian thực giữa các lĩnh vực lưu trú, hàng không, thanh toán điện tử và an ninh mạng là điều kiện để triển khai các thuật toán trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản trị điểm đến. Bài học thành công từ hệ thống dữ liệu lớn của một số nước đã chứng minh việc làm chủ dữ liệu số không chỉ giúp tối ưu hóa luồng khách mà còn là công cụ bảo vệ chủ quyền số và an ninh kinh tế quốc gia trong dài hạn.
Phát triển hệ sinh thái AI và du lịch trải nghiệm văn hóa số
Trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghiệp văn hóa sáng tạo là hai động lực kép quyết định khả năng bứt phá giá trị gia tăng của du lịch việt. Việt Nam cần chuyển hóa kho tàng "di sản tồn tại" thành các "sản phẩm trải nghiệm văn hóa sống động" có hàm lượng tri thức cao thông qua việc xây dựng nền tảng du lịch AI-bản địa. Cuộc cách mạng AI tạo sinh đang định hình lại toàn bộ cấu trúc chuỗi giá trị dịch vụ toàn cầu, mang đến tiềm năng gia tăng giá trị kinh tế cao cho các ngành có số hóa cao.
AI không còn là công cụ hỗ trợ kỹ thuật đơn thuần mà đã từng bước chuyển thành lớp hạ tầng hỗ trợ dự báo chính xác hành vi tiêu dùng đến tối ưu hóa chuỗi cung ứng logistics của điểm đến. Bên cạnh đó, tài nguyên văn hóa hào hùng của 54 dân tộc với hơn 40.000 di tích lịch sử chính là nguồn lực nội sinh vô tận để phát triển kinh tế du lịch sáng tạo.
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng căn dặn tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc "Văn hóa là hồn cốt của Dân tộc, nói lên bản sắc của Dân tộc. Văn hóa còn thì Dân tộc còn". Định hướng chính trị sâu sắc này yêu cầu ngành du lịch phải biết cách kể những câu chuyện quốc gia bằng ngôn ngữ công nghệ hiện đại, phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái vũ trụ kỹ thuật số (metaverse) di sản, nghệ thuật biểu diễn đẳng cấp và các tổ hợp kinh tế du lịch đêm đa sắc màu.
Tầm nhìn Net Zero 2050 buộc du lịch Việt Nam phải chuyển đổi mô hình từ "bền vững" sang "tái tạo", gắn liền phát triển du lịch biển xanh và củng cố hiện diện dân sự, bảo vệ chủ quyền đại dương và xây dựng thương hiệu quốc gia an toàn, tin cậy. Với đường bờ biển trải dài hơn 3.260 km sở hữu vị trí địa chính trị trọng yếu tại Biển Đông, du lịch biển đảo không chỉ thuần túy là không gian khai thác kinh tế mà còn là cấu phần không thể tách rời của chiến lược an ninh quốc gia. Việc đầu tư xây dựng các siêu điểm đến ven biển thế hệ mới theo mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ tạo lập thế đứng vững chắc cho Việt Nam trong chuỗi cung ứng dịch vụ biển đẳng cấp quốc tế. Mỗi bước chuyển dịch xanh, loại bỏ triệt để rác thải nhựa tại các hành lang ven biển chính là hành động cụ thể phát triển bền vững du lịch biển.
Mục tiêu tối thượng của du lịch tái tạo là phục hồi nguồn vốn tự nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học tại các vùng nhạy cảm và nâng cao năng lực chống chịu của cộng đồng bản địa trước thiên tai. Đi đôi với môi trường sinh thái, môi trường an ninh chính trị ổn định và trật tự an toàn xã hội cao của Việt Nam hậu đại dịch chính là tài sản chiến lược cần được định chế hóa thành thương hiệu "An toàn Vietnam". Việc tích hợp các tiêu chuẩn an toàn y tế, an toàn dữ liệu và quản trị khủng hoảng bằng AI sẽ giúp nâng cao thứ hạng năng lực cạnh tranh du lịch quốc gia trên bảng xếp hạng uy tín toàn cầu.
Đột phá du lịch quốc gia trong kỷ nguyên mới
Để hiện thực hóa mục tiêu đón khoảng 45-50 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2030 và duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu ấn tượng từ 16-19%/năm, Chính phủ cần quyết liệt áp dụng mô hình đổi mới sáng tạo và thiết lập các đặc khu kinh tế du lịch có thể chế vượt trội. Lộ trình bứt phá đòi hỏi sự phá vỡ khoảng cách giữa nghiên cứu lý luận, đào tạo nhân lực và thực tiễn vận hành của doanh nghiệp thông qua vận hành mô hình liên kết bốn nhà (Quadruple Helix) gồm Nhà nước - Đại học - Doanh nghiệp - Người dân/Cộng đồng. Các cực tăng trưởng lớn như Hạ Long, Hải Phòng, Đà Nẵng, Phú Quốc, Nha Trang và Thành phố Hồ Chí Minh cần được nâng cấp quy hoạch thành các "Khu kinh tế du lịch tự do" (Tourism Economic Zones) sở hữu các quyền ưu đãi cao về mặt tài chính, đất đai và sandbox thử nghiệm công nghệ số.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, du lịch đang trở thành “hạ tầng mềm chiến lược” thông qua tích hợp đa chiều giữa tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo, phát triển đô thị, công nghiệp văn hóa, sức mạnh mềm và vị thế địa chính trị quốc gia.
Để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi Việt Nam phải hình thành các động lực tăng trưởng mới mang tính lan tỏa mạnh, có khả năng huy động tổng hợp các nguồn lực xã hội như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, cần “khơi thông mọi nguồn lực phát triển”, xây dựng mô hình phát triển mới dựa trên tri thức, dữ liệu, năng suất chất lượng cao và thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.
Đây chính là cơ sở chính trị - chiến lược đặc biệt quan trọng để tái định vị đúng tầm du lịch Việt Nam trở thành một trong những động lực chiến lược quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng hai con số, mở rộng không gian phát triển mới, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia và góp phần đưa Việt Nam vững bước tiến vào hàng ngũ các quốc gia phát triển, hùng cường và thịnh vượng vào năm 2045.
Bùi Chí Kiên
Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn
Bài viết gốc: Xem tại đây