Lãi suất ngân hàng ngày 23/7/2026: Kỳ hạn dài chạm mốc 7,8%/năm
Thứ năm , 23/07/2026 15:10
```
Thứ năm , 23/07/2026 15:10
Thị trường tiền gửi ngày 23/7 ghi nhận mức lãi suất huy động cao nhất đạt 7,8%/năm. Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng hạ nhiệt với doanh số giao dịch tăng mạnh.
Theo khảo sát biểu lãi suất niêm yết tại các tổ chức tín dụng ngày 23/7/2026, mặt bằng lãi suất huy động đang duy trì sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm kỳ hạn. Đáng chú ý, mức lãi suất cao nhất trên thị trường hiện đạt 7,8%/năm, áp dụng cho các khoản tiền gửi kỳ hạn dài tại một số ngân hàng thương mại cổ phần.
Lãi suất huy động kỳ hạn dài duy trì ở mức cao
Báo cáo mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về diễn biến thị trường trong tháng 6/2026 cho thấy, lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của các ngân hàng thương mại đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng duy trì ở mức thấp, dao động từ 0,1-0,2%/năm. Tuy nhiên, ở các kỳ hạn dài hơn, biên độ lãi suất có sự giãn cách lớn.
Cụ thể, đối với kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng, mức lãi suất huy động dao động trong khoảng 6,1-7,6%/năm. Với kỳ hạn trên 24 tháng, thị trường ghi nhận mức lãi suất phổ biến từ 7,1-7,8%/năm. Đây được xem là mức lợi suất hấp dẫn đối với nhóm khách hàng ưu tiên tính ổn định trong dài hạn.
Thị trường liên ngân hàng hạ nhiệt, doanh số giao dịch tăng
Trái ngược với đà giữ giá của lãi suất huy động dân cư, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng trong tuần từ 13/7 đến 17/7 ghi nhận xu hướng giảm ở hầu hết các kỳ hạn chủ chốt. Cụ thể:
Thanh khoản hệ thống được duy trì dồi dào với doanh số giao dịch bằng VND đạt xấp xỉ 4.549.208 tỷ đồng, bình quân đạt 909.842 tỷ đồng/ngày, tăng hơn 24.126 tỷ đồng/ngày so với tuần kế trước. Các giao dịch chủ yếu tập trung ở kỳ hạn qua đêm, chiếm 95% tổng doanh số.
Lãi suất cho vay duy trì ổn định
Về phía đầu ra, NHNN cho biết lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại đối với các khoản vay mới và cũ còn dư nợ đang dao động trong khoảng 8,1-10,5%/năm. Đặc biệt, lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên hiện ở mức 3,9%/năm, thấp hơn mức trần quy định là 4%/năm. Đối với các khoản vay bằng USD, lãi suất bình quân phổ biến từ 4,1-5,4%/năm.
Bảng lãi suất huy động trực tuyến niêm yết ngày 23/7 (%/năm)
| Ngân hàng | 1 tháng | 6 tháng | 12 tháng | 18 tháng |
|---|---|---|---|---|
| Agribank | 4,75 | 6,6 | 6,8 | 6,8 |
| BIDV | 4,75 | 6,6 | 6,8 | 6,8 |
| Vietcombank | 4,75 | 6,6 | 6,8 | 6,8 |
| VietinBank | 4,75 | 6,6 | 6,8 | 6,8 |
| ACB | 4,75 | 7,6 | 7,7 | 7,8 |
| MB | 4,5 | 5,8 | 6,35 | 6,35 |
| Techcombank | 4,35 | 6,55 | 6,75 | 5,85 |
| Sacombank | 4,5 | 6,4 | 6,6 | 6,6 |
| SCB | 1,6 | 2,9 | 3,7 | 3,9 |
Nhìn chung, xu hướng lãi suất trong thời gian tới sẽ phụ thuộc lớn vào diễn biến lạm phát và các quyết sách điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.
Tuệ Nhân
Nguồn: Báo Lâm Đồng điện tử
Bài viết gốc: Xem tại đây