Nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp lên tối đa 95%
Thứ sáu , 18/09/2026 15:22
```
Thứ sáu , 18/09/2026 15:22
Từ ngày 20/10/2026, chính sách bảo hiểm nông nghiệp có bước điều chỉnh đáng chú ý khi mức hỗ trợ phí bảo hiểm đối với hộ nghèo, cận nghèo được nâng lên tối đa 95%; cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 50%.
Đồng thời, phạm vi đối tượng bảo hiểm được mở rộng và thẩm quyền quyết định chính sách được phân cấp mạnh hơn cho địa phương.
Mở rộng đối tượng, tăng mức hỗ trợ
Theo quy định mới tại Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp, phạm vi đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được mở rộng. Theo đó, , ngoài 3 đối tượng đã được quy định tại Điều 18 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP gồm: cây trồng (lúa, cao su, hồ tiêu, điều, cà phê, cây ăn quả, rau); vật nuôi (trâu, bò, lợn, gia cầm); nuôi trồng thủy sản (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra), Nghị định 346/2026/NĐ-CP còn bổ sung thêm đối tượng thứ 4 được hỗ trợ. Đó là đối tượng bảo hiểm khác bao gồm cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản, cây lâm nghiệp chính, chủ lực thuộc danh mục do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương công bố.
Cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo: hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm nông nghiệp (hiện là 90%). Ảnh: T.B
Bên cạnh ba nhóm Cơ quan soạn thảo đánh giá việc mở rộng danh mục được hỗ trợ nhằm tạo dư địa để chính sách bảo hiểm bám sát hơn thực tế sản xuất. Thay vì chỉ giới hạn ở một số loại cây trồng, vật nuôi và thủy sản được quy định cụ thể, phạm vi hỗ trợ có thể được mở rộng theo danh mục sản phẩm chủ lực, phù hợp với định hướng phát triển của từng giai đoạn. Nghị định số 346/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/10/2026.
Đáng chú ý, mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp cũng được điều chỉnh tăng mạnh. Theo đó, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo: hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm nông nghiệp (hiện là 90%).
Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 50% phí bảo hiểm nông nghiệp (hiện là 20%).
Cùng với đó, tổ chức sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ tối đa 30% phí bảo hiểm nông nghiệp (tăng 10% so với hiện nay) cho doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã khi đáp ứng một trong các quy định sau.
Một là, có hợp đồng liên kết gắn với sản phẩm nông nghiệp là các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, đảm bảo quy định tại Điều 4 và Điều 5 Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có);
Hai là, có sản phẩm nông nghiệp là các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được chứng nhận đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm của cơ quan có thẩm quyền hoặc đã được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định; hoặc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản xác nhận của Ban quản lý khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định của Chính phủ.
Phân cấp mạnh hơn cho địa phương
Nghị định số 346/2026/NĐ-CP nêu rõ, căn cứ chiến lược và kế hoạch phát triển của ngành nông nghiệp, chiến lược và kế hoạch phát triển đặc thù của từng địa phương, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể triển khai chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp trên toàn bộ địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc trên một số địa bàn cấp xã.
Một thay đổi đáng chú ý khác nằm ở thẩm quyền quyết định chính sách được phân cấp mạnh hơn cho địa phương.
Theo Nghị định số 58/2018/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ quyết định cụ thể nhiều nội dung của chính sách hỗ trợ, từ đối tượng tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, loại cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản, loại rủi ro được bảo hiểm, mức hỗ trợ, thời gian thực hiện đến địa bàn được hỗ trợ.
Trong khi đó, Nghị định số 346/2026/NĐ-CP giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy định về đối tượng, mức hỗ trợ, loại rủi ro và các điều kiện liên quan, đồng thời phù hợp với tình hình thực tế và khả năng cân đối ngân sách, quyết định địa bàn được hỗ trợ trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ; loại rủi ro được bảo hiểm; mức hỗ trợ và thời gian thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp. HĐND cấp tỉnh công bố văn bản quy định tại khoản 1 Điều này trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương và thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND cấp xã thuộc địa bàn được hỗ trợ. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều này, UBND cấp xã thuộc địa bàn được hỗ trợ tổ chức tập huấn, tuyên truyền về bảo hiểm nông nghiệp.
Thanh Bình
Nguồn: daidoanket.vn
Bài viết gốc: Xem tại đây