Đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói
Thứ bảy , 01/08/2026 08:54
```
Thứ bảy , 01/08/2026 08:54
Ngày 31/7, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến cấp, quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói.
Nghị quyết này điều chỉnh, bổ sung một số quy định về nguyên tắc, hồ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói tại Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/01/2026 của Chính phủ.
Theo đó, mã số vùng trồng sẽ được cấp cho một loại cây trồng xác định theo vị trí của một hoặc nhiều thửa đất theo đề nghị của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ gia đình. Việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện hoàn toàn trên môi trường mạng.
Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng sẽ giúp người trồng sầu riêng yên tâm sản xuất
Quy trình này dựa trên nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm; giúp giảm thời gian, giảm chi phí tuân thủ; bảo đảm công khai, minh bạch và gắn liền với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, truy xuất nguồn gốc của cơ quan nhà nước. Việc tiền kiểm chỉ thực hiện đối với trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu.
Điểm mới nổi bật của Nghị quyết là phân cấp mạnh mẽ thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính về cấp xã. Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ qua Cổng dịch vụ công quốc gia đến Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi có địa chỉ vùng trồng, cơ sở đóng gói). Chủ tịch UBND cấp xã chịu trách nhiệm xem xét, ban hành Thông báo cấp mã số hoặc có văn bản trả lời nêu rõ lý do nếu không cấp.
Thời gian giải quyết thủ tục hành chính cũng được cắt giảm tối đa. Đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, thời hạn giải quyết không quá 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ. Trường hợp đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc, Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức kiểm tra thực tế và ban hành Thông báo cấp mã số (phê duyệt ngay nếu nước nhập khẩu đồng ý để Việt Nam tự phê duyệt).
Đối với mã số phải do nước nhập khẩu phê duyệt, cơ quan chuyên môn đầu mối cấp tỉnh tổng hợp gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong 3 ngày làm việc; Bộ Nông nghiệp và Môi trường có 3 ngày làm việc để tổng hợp và gửi cho nước nhập khẩu. Trường hợp tổ chức, cá nhân thay đổi thông tin đại diện hoặc do điều chỉnh địa giới hành chính, thời gian xử lý cấp lại mã số tại UBND cấp xã được rút ngắn chỉ còn trong 2 ngày làm việc.
Trường hợp Cổng dịch vụ công quốc gia gặp sự cố hoặc người dân không thể nộp trên môi trường mạng, UBND cấp xã sẽ tiếp nhận hồ sơ bản giấy (nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện) và cập nhật ngay lên hệ thống sau khi cổng hoạt động bình thường.
Toàn bộ dữ liệu mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói được quản lý tập trung trên Hệ thống xử lý nghiệp vụ, công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. UBND cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí nguồn lực cho cấp xã thực hiện. Đồng thời, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh làm đầu mối cập nhật công khai danh sách và trạng thái hoạt động của mã số. Đối với các trường hợp cấp mã số theo cơ chế tự kê khai, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức hậu kiểm trong thời hạn tối đa 3 tháng kể từ ngày cấp.
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP có hiệu lực thi hành cho đến khi Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38/2026/NĐ-CP được ban hành (dự kiến trình Chính phủ xem xét ban hành theo thủ tục rút gọn trong tháng 9/2026).
Minh Thuận
Nguồn: “Báo Đắk Lắk Điện tử”
Bài viết gốc: Xem tại đây