Xây dựng vùng nguyên liệu cà phê minh bạch
Thứ hai , 03/08/2026 07:54
```
Thứ hai , 03/08/2026 07:54
Tại Đắk Lắk - thủ phủ cà phê của Việt Nam, việc thích ứng với EUDR được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Do đó, việc xây dựng vùng nguyên liệu minh bạch đang được đẩy mạnh từ cơ sở dữ liệu vùng trồng, định vị từng thửa đất đến liên kết doanh nghiệp với nông dân… nhằm nâng sức cạnh tranh của mặt hàng cà phê Đắk Lắk trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thích ứng "luật chơi" mới
Tại tỉnh Đắk Lắk - thủ phủ cà phê của cả nước với diện tích canh tác 217.000 ha và sản lượng trên 580.000 tấn/năm, Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) từng được nhìn nhận như một "bộ lọc" khắt khe. Với đặc thù gần 90% diện tích thuộc sở hữu nông hộ nhỏ lẻ, manh mún, đất đai nằm đan xen, việc xác minh nguồn gốc từng lô hàng theo phương pháp thủ công gần như là bài toán bất khả thi.
Trước thực tế đó, công tác số hóa dữ liệu vùng trồng đã được tỉnh Đắk Lắk phối hợp với các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp triển khai đồng bộ ở các vùng trồng cà phê của tỉnh. Các đơn vị đã triển khai công nghệ khoanh vùng đa giác (GPS Polygon) trực tiếp tại vườn nhằm thay thế cho việc xác định tọa độ đơn điểm (Dot) dễ phát sinh sai số. Dữ liệu hình học thửa đất sau khi trích xuất theo chuẩn GeoJSON quốc tế sẽ được đối chiếu tự động với bản đồ vệ tinh Sentinel-2 và Landsat để kiểm tra biến động tán rừng sau mốc thời gian 31/12/2020.
Đánh giá về tầm quan trọng của việc chủ động thích ứng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thiên Văn khẳng định: Đối với mặt hàng cà phê, quy định EUDR có tác động sống còn đến kim ngạch xuất khẩu sang thị trường châu Âu của tỉnh. Thời gian qua, Đắk Lắk rất chủ động triển khai thí điểm xây dựng cơ sở dữ liệu thích ứng EUDR tại khu vực 3 huyện cũ là Krông Năng, Cư M'gar và Ea H'leo. Đến nay, tổng diện tích khảo sát, thu thập dữ liệu nông hộ trồng cà phê toàn tỉnh đạt 86.339 ha (chiếm xấp xỉ 40% diện tích), từng bước tích hợp dữ liệu không gian rừng với dữ liệu ranh giới đất (Polygon) của các nông hộ.
HTX Nông nghiệp bền vững Cư Suê 2-9 (xã Quảng Phú) đáp ứng các tiêu chuẩn trong sản xuất cà phê của EUDR
Song song với các doanh nghiệp địa phương như Công ty TNHH MTV Xuất, nhập khẩu 2-9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) - đơn vị đã cập nhật bản đồ số cho hơn 48.000 nông hộ, các tập đoàn đa quốc gia cũng ráo riết vào cuộc. Tính đến nay, chương trình Nescafé Plan của Nestlé Việt Nam đã thu thập cơ sở dữ liệu với hơn 40.000 polygon, phủ khắp các vùng nguyên liệu trọng điểm tại Đắk Nông, Lâm Đồng, Đắk Lắk và Gia Lai.
Theo ông Phạm Phú Ngọc, Trưởng Chi nhánh Công ty Nestlé Việt Nam tại Tây Nguyên, Giám đốc Chương trình Nescafé Plan Việt Nam, Nestlé xem EUDR không chỉ là yêu cầu tuân thủ pháp lý bắt buộc mà còn là cơ hội nâng cao tính minh bạch của chuỗi cung ứng, gia tăng giá trị hạt cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh lâu dài cho người trồng cà phê.
Bám sát các điều chỉnh của EC
Không dừng lại ở việc đáp ứng các rào cản truy xuất nguồn gốc, việc kiến tạo vùng nguyên liệu minh bạch còn gắn liền với mục tiêu cắt giảm "dấu chân carbon" và chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp tái sinh.
Tại các vùng nguyên liệu liên kết, nông dân được tập huấn kỹ thuật canh tác giảm phát thải: bón phân cân đối theo nhu cầu sinh lý của cây, tăng cường bổ sung chất hữu cơ, duy trì thảm cỏ che phủ đất và áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). Kết quả thử nghiệm tại nhiều mô hình cho thấy lượng phân bón hóa học giảm tới 20% nhưng vẫn duy trì năng suất ổn định từ 3,5 - 4 tấn/ha. Bên cạnh đó, việc áp dụng các giống cà phê mới chịu hạn giúp kéo dài chu kỳ tưới lên 40 ngày và tiết kiệm từ 40 - 60% lượng nước tưới. Thực tế tại các trang trại đã chứng minh, sự minh bạch và bền vững mang lại lợi ích kinh tế sát sườn. Nhờ tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và chứng minh không gây mất rừng, cà phê thuộc chuỗi liên kết được các đối tác quốc tế thu mua với mức giá cao hơn từ 10 - 20% so với mặt bằng chung.
Vùng nguyên liệu cà phê của Simexco Daklak đáp ứng các tiêu chuẩn của EUDR
Với sự chủ động của tỉnh và hành động tiên phong từ doanh nghiệp, hợp tác xã, ngành cà phê Đắk Lắk đang củng cố vững chắc vị thế "thủ phủ cà phê" trên thị trường quốc tế. Tiêu biểu như Simexco Daklak, là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam cũng như của thế giới được Hiệp hội 4C cấp hai Chứng nhận 4C-EUDR, với tổng diện tích 9.437 ha. Hiện doanh nghiệp đang hướng tới mục tiêu quản lý 50.000 nông dân sản xuất bền vững, đạt chuẩn EUDR và phát thải carbon thấp.
Theo kế hoạch, Đắk Lắk sẽ triển khai khoảng 150.000 ha cà phê đáp ứng quy định EUDR. Tỉnh đang tiếp tục phối hợp Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cùng với các tổ chức và DN để tiếp tục xây dựng cơ sở dữ liệu liên quan đến quy hoạch lâm nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay Ủy ban châu Âu (EC) vừa đề xuất bổ sung cà phê hòa tan vào danh mục sản phẩm chịu sự điều chỉnh nhằm đảm bảo tính nhất quán trong quá trình thực thi. Cụ thể, bên cạnh các mặt hàng nông sản thô, dự thảo văn bản ủy quyền mới đã mở rộng sang một số sản phẩm hạ nguồn, bao gồm cà phê hòa tan và các dẫn xuất từ dầu cọ (như xà phòng). Ngược lại, một số mặt hàng như da thuộc, hàng mẫu và lốp xe tái chế được đề xuất loại trừ khỏi phạm vi điều chỉnh.
Việc đề xuất đưa cà phê hòa tan vào EUDR được xem là bước đi nhằm lấp đầy các lỗ hổng trong quản lý chuỗi cung ứng. Quy định này không chỉ hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường mà còn thúc đẩy những thay đổi mang tính cấu trúc, tăng cường tính minh bạch và ứng dụng giải pháp số trong sản xuất nông nghiệp bền vững trên toàn cầu.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, để đáp ứng yêu cầu EUDR, với các đối tác trong chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp cần bám sát vùng trồng, làm cà phê có chứng nhận bền vững, xây dựng bản đồ số, truy xuất nguồn gốc đến từng nông hộ và bám sát các điều chỉnh mới của EC để bảo đảm các quy định được đáp ứng đầy đủ để nâng cao uy tín thương hiệu nông sản Việt Nam, chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang kinh tế nông nghiệp xanh, minh bạch và có trách nhiệm.
| Theo danh sách phân loại rủi ro quốc gia được công bố bởi EC, Việt Nam được xếp vào nhóm "rủi ro thấp" (low risk) đối với quy định EUDR. Tuy nhiên, điều này không thay đổi nghĩa vụ pháp lý đối với các nhà xuất khẩu từ Việt Nam, các doanh nghiệp vẫn phải tuân thủ đầy đủ tất cả các yêu cầu của EUDR. Doanh nghiệp vừa và lớn phải tuân thủ EUDR từ 30/12/2026; doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ có thời hạn đến 30/6/2027, muộn hơn một năm so với kế hoạch ban đầu. |
Minh Thuận
Nguồn: “Báo Đắk Lắk Điện tử”
Bài viết gốc: Xem tại đây