Đổi mới giáo dục đại học trong kỷ nguyên số (kỳ 1)
Thứ ba , 25/08/2026 15:10
```
Thứ ba , 25/08/2026 15:10
Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW đang đặt giáo dục đại học trước những yêu cầu phát triển mới, nơi công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực ngày càng gắn kết chặt chẽ.
Tại Đắk Lắk, các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng đang từng bước chuyển mình từ quản trị, dạy và học đến nghiên cứu, kết nối doanh nghiệp, hướng tới hình thành nguồn nhân lực có năng lực số, tư duy đổi mới và khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời đại mới.
Kỳ 1: Kiến tạo nền tảng số
Chuyển đổi số đang làm thay đổi cách các trường đại học, cao đẳng vận hành, quản trị và phục vụ người học. Tại Đắk Lắk, từ hạ tầng, dữ liệu đến các nền tảng và dịch vụ số, các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng đang từng bước kết nối, đồng bộ, tạo nền tảng cho một hệ sinh thái giáo dục hiện đại và những đổi mới sâu hơn trong đào tạo, nghiên cứu.
Từ số hóa đến đổi mới
Trong bối cảnh chuyển đổi số (CĐS) đang diễn ra mạnh mẽ, giáo dục được xác định là một trong những lĩnh vực ưu tiên. Nghị quyết số 57 đặt ra mục tiêu xây dựng hạ tầng số dùng chung, đẩy mạnh phát triển dữ liệu và gỡ bỏ rào cản đầu tư vào Trí tuệ nhân tạo (AI). Cùng với đó, Nghị quyết số 71 thúc đẩy số hóa toàn diện không gian học đường, ứng dụng AI thay đổi phương thức quản trị đại học, tối ưu quy trình quản lý và hỗ trợ nghiên cứu giảng dạy.
Tại Đắk Lắk, ngành giáo dục đã ban hành nhiều kế hoạch triển khai CĐS, từng bước hình thành hệ sinh thái giáo dục số từ quản lý đến giảng dạy. Theo TS. Lê Thị Thanh Xuân, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, CĐS không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu đối với mỗi cơ sở giáo dục. Nhà trường không chỉ số hóa hồ sơ, dữ liệu mà phải chuyển sang mô hình giáo dục số, trong đó người học là trung tâm, dữ liệu là tài nguyên và công nghệ là công cụ để nâng cao chất lượng dạy học. Các trường đại học, cao đẳng có vai trò đặc biệt quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực số phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sinh viên Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột tham dự buổi giảng dạy chuyên đề của giảng viên nước ngoài
Với các cơ sở giáo dục đại học, CĐS phải thể hiện ở cách nhà trường vận hành, cách giảng viên tổ chức dạy học và cách người học tiếp cận tri thức. Khi dữ liệu được kết nối, quy trình được số hóa và học liệu được đưa lên môi trường trực tuyến, công tác quản lý hiệu quả hơn, người học có thêm điều kiện học tập linh hoạt, chủ động.
Là một trong những cơ sở đào tạo đại học lớn nhất khu vực Tây Nguyên, Trường Đại học Tây Nguyên xác định CĐS là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển. TS. Lê Thế Phiệt, Phó Hiệu trưởng nhà trường cho biết, trường đang từng bước đầu tư hạ tầng công nghệ, phát triển học liệu số, các hệ thống phục vụ quản trị và đào tạo, đồng thời nghiên cứu ứng dụng AI trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. “Chúng tôi không chỉ đào tạo kiến thức chuyên môn mà còn trang bị cho sinh viên năng lực số, khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại. Đây chính là yêu cầu của thị trường lao động trong giai đoạn mới”, TS. Lê Thế Phiệt chia sẻ.
Sinh viên Trường Cao đẳng Công thương miền Trung thực hành công nghệ thông tin
Tại Trường Cao đẳng Công Thương miền Trung (MITC), nhà trường tổ chức các chương trình tập huấn về công nghệ, AI, khuyến khích giảng viên, học sinh, sinh viên đưa công nghệ vào giảng dạy, học tập, nghiên cứu và quản lý. Trọng tâm là hướng dẫn cách ứng dụng công nghệ vào thực tế, hình thành thói quen tự tìm kiếm giải pháp và thích ứng với sự thay đổi nhanh của công nghệ.
Từ yêu cầu của Nghị quyết số 57, Nghị quyết số 71 đến thực tiễn tại các cơ sở đào tạo cho thấy, CĐS đã trở thành yêu cầu để nâng cao chất lượng và phát triển giáo dục trong môi trường mới.
Sinh viên lớp Quản lý đất đai K23, Trường Đại học Tây Nguyên thực hành trên phòng máy
Kết nối để tạo giá trị
CĐS chỉ thực sự tạo ra thay đổi khi những nền tảng được đầu tư không còn vận hành riêng lẻ. Tại các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn tỉnh, hạ tầng công nghệ, hệ thống quản trị, dữ liệu, học liệu và các dịch vụ dành cho người học đang từng bước được kết nối, tạo thành không gian số thống nhất.
Ở Trường Đại học Tây Nguyên, hệ thống quản lý đào tạo được tích hợp với cổng thông tin sinh viên, cho phép người học đăng ký học phần, tra cứu kết quả học tập, học phí, lịch học và thực hiện nhiều dịch vụ trực tuyến. Nhà trường đồng thời phát triển hệ thống quản lý học tập, thư viện số và kho học liệu điện tử.
Công nghệ thông tin phát triển, giúp sinh viên tiếp cận được nhiều nguồn học liệu trên môi trường số. Trong ảnh: Sinh viên Trường Đại học Tây Nguyên tìm tài liệu học tập tại thư viện trường
Điểm đáng chú ý là các hệ thống này không chỉ thay thế thao tác thủ công mà còn tạo nguồn dữ liệu phục vụ quản trị. Thông tin về quá trình học tập, kết quả đào tạo và việc sử dụng dịch vụ của người học được cập nhật trên môi trường số, giúp nhà trường có thêm cơ sở theo dõi, phân tích và đưa ra quyết định.
Tại Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột, quá trình số hóa được triển khai gắn với đặc thù đào tạo khối ngành sức khỏe. Hệ thống ngân hàng câu hỏi, quản lý điểm, khảo thí và đánh giá người học được đưa lên nền tảng số; các phòng học được trang bị thiết bị trình chiếu, màn hình tương tác. Công nghệ mô phỏng, hình ảnh số và học liệu điện tử cũng từng bước được đưa vào đào tạo.
Sinh viên Trường đại học Y dược Buôn Ma Thuột học tập với các thiết bị hiện đại
Xu hướng chung các trường hướng tới là kết nối dữ liệu giữa tuyển sinh, đào tạo, khảo thí, quản lý sinh viên, nghiên cứu khoa học, tài chính và các dịch vụ hỗ trợ. Dữ liệu được chuẩn hóa, tích hợp sẽ trở thành nguồn tài nguyên phục vụ quản trị đại học. Cô Lê Thị Kim Huệ, giảng viên Học viện Ngân hàng - Phân viện Phú Yên cho hay, khi các hoạt động được thực hiện trên cùng môi trường số, dữ liệu được lưu trữ, cập nhật liên tục, giảng viên thuận lợi hơn trong theo dõi quá trình học tập và giảm đáng kể thao tác thủ công.
Tuy nhiên, quá trình hình thành hệ sinh thái dữ liệu và quản trị số vẫn còn không ít khó khăn. Nguồn kinh phí dành cho CĐS, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu; đầu tư thiết bị và nền tảng số đòi hỏi nguồn lực lớn, đồng thời phải bảo đảm tính đồng bộ, khả năng kết nối. Năng lực số của một bộ phận cán bộ, giảng viên, viên chức chưa đồng đều; yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu người học và chuẩn hóa dữ liệu giữa các hệ thống cũng đặt ra nhiều vấn đề… Những yêu cầu này đòi hỏi các nhà trường tiếp tục đầu tư công nghệ theo lộ trình phù hợp để CĐS diễn ra thực chất, bền vững.
| "Toàn tỉnh hiện có 8 cơ sở đại học, 7 trường cao đẳng, 4 trường trung cấp và 43 cơ sở có hoạt động giáo dục nghề nghiệp; tất cả đều ứng dụng công nghệ số trong dạy và học. Trong đó, 8 trường đại học và một số trường cao đẳng đã triển khai hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS), thư viện điện tử và các công cụ AI. Năm học 2026-2027, nhiều trường phấn đấu ít nhất 50% học phần có học liệu số, đồng thời xây dựng 1-2 học phần trực tuyến ở mỗi lớp, từng bước mở rộng không gian học tập số và nâng cao chất lượng đào tạo" - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Lê Thị Kim Oanh |
Trung Hiếu - Tuyết Hương
Nguồn: “Báo Đắk Lắk Điện tử”
Bài viết gốc: Xem tại đây