Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 49,3 tỷ USD
Thứ năm , 03/09/2026 15:09
```
Thứ năm , 03/09/2026 15:09
Sau 8 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, rau quả, thủy sản và sản phẩm chăn nuôi nổi lên là những điểm sáng, trong khi cà phê, gạo, cao su và chè chịu áp lực từ sự sụt giảm về giá trị hoặc sản lượng.
Gần 49,3 tỷ USD sau 8 tháng
Theo số liệu ước tính, tháng 8/2026, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 6,47 tỷ USD, giảm 3,5% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 8 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7%.
Đáng chú ý, động lực tăng trưởng đến từ nhiều nhóm hàng. Giá trị xuất khẩu nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%; thủy sản đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; lâm sản đạt 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%.
Đặc biệt, nhóm hàng đầu vào phục vụ sản xuất đạt 2,61 tỷ USD, tăng tới 64,8%, trong khi xuất khẩu muối đạt 10,4 triệu USD, tăng 44,4%.
Xét theo khu vực, châu Á tiếp tục giữ vị trí thị trường xuất khẩu lớn nhất đối với các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chủ lực của Việt Nam, chiếm 45,5% thị phần. Tiếp theo là châu Mỹ với 21,5% và châu Âu với 13,4%.
Trong 8 tháng, xuất khẩu sang châu Á tăng 11,3%, châu Đại Dương tăng 16,4% và châu Âu tăng 1,7%. Trong khi đó, khu vực châu Phi giảm 18,3%, còn châu Mỹ chỉ tăng 0,6%.
Ở cấp độ từng thị trường, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiếp tục là ba thị trường lớn nhất, lần lượt chiếm 22,7%, 19,1% và 6,8%. Đáng chú ý, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang Trung Quốc tăng 22,1%, Nhật Bản tăng 2%, trong khi Hoa Kỳ giảm 0,4%.
Rau quả, thủy sản tạo điểm sáng
Trong các nhóm hàng chủ lực, rau quả tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng nổi bật.
Giá trị xuất khẩu hàng rau quả tháng 8 năm 2026 ước đạt 1,24 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu hàng rau quả 8 tháng đầu năm 2026 đạt 6,02 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Mặt hàng rau quả của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc với thị phần chiếm 58,9% tổng giá trị xuất khẩu. Hai thị trường lớn tiếp theo là Hoa Kỳ và Hàn Quốc với thị phần lần lượt là 7,6% và 4,2%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu hàng rau quả 7 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc tăng 33,1%, thị trường Hoa Kỳ tăng 14,4%, thị trường Hàn Quốc tăng 9,6%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu hàng rau quả tăng mạnh nhất ở thị trường Campuchia với mức tăng 2,5 lần.
Trong các nhóm hàng chủ lực, rau quả tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng nổi bật. Ảnh: NN
Thủy sản cũng duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực. Giá trị xuất khẩu hàng thủy sản tháng 8 năm 2026 ước đạt 1,08 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu hàng thủy sản 8 tháng đầu năm 2026 đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản là 3 thị trường tiêu thụ hàng thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 24%, 15,6% và 13,7%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu hàng thủy sản 7 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc tăng 37,1%, thị trường Hoa Kỳ tăng 2,5%, thị trường Nhật Bản tăng 2,3%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu hàng thủy sản tăng mạnh nhất ở thị trường Braxin với mức tăng 39,1% và giảm mạnh nhất ở thị trường Đức với mức giảm 0,2%.
Một điểm sáng khác là nhóm sản phẩm chăn nuôi. Trong 8 tháng, xuất khẩu đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 139,3 triệu USD, tăng 79,2%; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ đạt 154,1 triệu USD, tăng 15,2%.
Áp lực từ giá và sản lượng
Bên cạnh những điểm sáng, nhiều mặt hàng chủ lực vẫn đối mặt với áp lực từ thị trường.
Cà phê là một ví dụ điển hình. Khối lượng xuất khẩu cà phê tháng 8 năm 2026 ước đạt 123,8 nghìn tấn với giá trị đạt 545,6 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu cà phê 8 tháng đầu năm 2026 đạt 1,3 triệu tấn và 6 tỷ USD, tăng 13,1% về khối lượng nhưng giảm 9,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.538 USD/tấn, giảm 19,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Đức, Italia và Nhật Bản là 3 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 13,2%, 8,2% và 7,1%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu cà phê 7 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Đức giảm 17,4%, thị trường Italia giảm 1,2%, thị trường Nhật Bản giảm 7%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu cà phê tăng mạnh nhất ở thị trường Trung Quốc với mức tăng 72,7% và giảm mạnh nhất ở thị trường Malayxia với mức giảm 26,7%.
Tình trạng tương tự cũng diễn ra với gạo. Khối lượng xuất khẩu gạo tháng 8 năm 2026 ước đạt 459,5 nghìn tấn với giá trị đạt 240,6 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo 8 tháng đầu năm 2026 đạt 6 triệu tấn và 2,86 tỷ USD, giảm 6,3% về khối lượng và giảm 11,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá gạo xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2026 ước đạt 480,9 USD/tấn, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2025
Philippin là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 43,2%. Trung Quốc và Gana là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 18,4% và 11%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu gạo 7 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Philippin giảm 5,1%, thị trường Gana giảm 12,3%, trong khi thị trường Trung Quốc tăng 92,2%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh nhất ở thị trường Irắc với mức tăng 110,9 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Bờ Biển Ngà với mức giảm 59,3%.
Khanh Lê
Nguồn: daidoanket.vn
Bài viết gốc: Xem tại đây