Vỏ bầu vương khói bếp…
Thứ hai , 07/09/2026 09:38
```
Thứ hai , 07/09/2026 09:38
Nếu lúa rẫy là nguồn lương thực chủ lực nuôi sống con người thì cây bầu, cây bí, dưa, cà... là nguồn thực phẩm rau quả “tự cung tự cấp” quan trọng của đồng bào miền rừng núi Trường Sơn - Tây Nguyên.
Quả bầu không chỉ để làm thức ăn mà còn có nhiều công dụng trong cuộc sống của đồng bào.
Mỗi năm, đồng bào Tây Nguyên thường gieo trồng bầu, bí thành hai đợt. Đợt thứ nhất, bà con trồng sau lúc đốt rẫy khi tro chưa tan, trồng cách này để có hoa trái ăn liền vào những tháng đầu mùa, khi mưa xuống là thu hoạch vừa hết. Đợt thứ hai, bà con mang hạt giống bầu bí trộn với lúa giống rồi trỉa chung cùng một lúc. Bằng cách này người chủ rẫy sẽ có bầu, bí, dưa, mướp để ăn vào những tháng cuối năm.
Cô gái Êđê giới thiệu mâm cỗ tiệc với vật dụng chủ yếu bằng vỏ bầu khô
Sau một vài tháng gieo trồng thì cây bầu cứ mọc lan dài dưới đất. Từ lúc mọc cho đến khi có quả già thường mất từ 3 đến 5 tháng. Quả non người ta thu hoạch về làm thực phẩm, những quả có hình dáng ưng ý được để dành đến khi thật già, thật khô mới hái về bảo quản, chế tác thành những công cụ phục vụ cuộc sống. Người ta moi hết phần ruột bầu rồi mang vỏ bầu phơi nắng và treo giàn bếp để bảo quản và tạo màu đen óng nhờ khói.
Quả bầu khô là đồ vật đắc dụng: dùng để chứa nước, làm bát ăn cơm (nuôk păn pel) hoặc bảo quản lương thực, thực phẩm, đặc biệt là dùng để đựng gạo (nuôk phe rmich), muối ăn... Đồng bào thường cất giữ gạo trong quả bầu khô, treo trên mái nhà. Khi nào nấu cơm thì lấy quả bầu xuống trút gạo vào nồi để nấu ăn.
Quả bầu dùng trong nghi lễ của dân tộc Giẻ - Triêng
Quả bầu lớn thường được đồng bào M’nông dùng để đựng cơm và thức ăn đi rẫy (nuôk pel). Mỗi buổi sáng, khi nấu nướng xong, phụ nữ bới cơm, múc canh, phân chia cho mọi người mang theo ăn trưa khi đi làm ở các nương rẫy xa nhà.
Đồng bào Êđê dùng quả bầu khô để đựng cháo chua, làm tô, chén ăn cơm, đựng gạo (mluê braih).
Trước đây, khi chưa có nồi nhôm, nồi đồng, bà con vùng cao thường nấu bằng ống nứa, ống giang và hông, hấp bằng nồi đất, vỏ bầu, còn gọi là nồi chõ, nhất là để nấu xôi (ngă kbin hǔl điǒ).
Tương tự, người M’nông chọn quả bầu già, vỏ dày, có nhét xơ mướp bên trong dùng để nấu cơm, đồ xôi (gonl mich). Đây là cách nấu khá phổ biến của nhiều tộc người ở vùng Tây Nguyên.
Trước khi nấu, người ta cho gạo vào bầu ngâm trong nước một đêm rồi bắc nồi nước lên đun sôi sau đó kê bầu gạo vào hấp. Hơi nước bay lên luồn vào bầu gạo, nhờ hơi nóng xông lên làm cho bầu gạo phía trên chín. Cơm hấp ăn rất ngon, nhất là gạo nếp thì càng dẻo thơm.
Phụ nữ M'nông bới cơm vào vỏ bầu để mang đi rẫy
Tùy theo hình dáng quả bầu: tròn, dài, thắt eo mà đồng bào chế tác nên những dụng cụ thích hợp, tiện lợi khi dùng và tạo nét thẩm mỹ. Những quả thuôn dài thì làm môi múc canh, gáo múc nước, bổ dọc làm dụng cụ tiếp nước vào ché rượu cần. Khi mời khách thưởng thức rượu cần, các thanh nữ vừa múa vừa tạo “thác nước” chảy vào ché rượu như lời mời gọi men say. Quả bầu có đeo thêm một chiếc vòng sắt hoặc bằng đồng ở chỗ thắt eo thì chuyên dùng để đựng gạo cúng thần lúa (nuôk phe); quả bầu dài, cắt một phần làm vụt rót gạo vào bầu (phe pa me xách); quả bầu đựng thức ăn cho gà (nuôk ăn xun); quả bầu để đựng thuốc hút (nuôk ăn hách); quả bầu có khoét rỗng trên thân bầu và vài lỗ thông hơi dùng để nuôi chim cảnh giống như một cái lồng (prưng pan)...
Chỉ cần nhìn vào gian bếp của mỗi gia đình cũng đủ thấy vai trò của quả bầu khô trong đời sống của người miền núi và sự gắn bó với người phụ nữ trong gia đình. Ngày nào người phụ nữ cũng có vài chuyến cõng nước, lúc sáng sớm trước khi đi làm hoặc chiều tối sau khi đi nương về. Người ta đưa quả bầu vào dòng nước tuôn chảy ra từ các ống tre ở bến nước và đặt vào gùi cõng về nhà. Hình ảnh gùi nước trên lưng rất đỗi thân quen, gợi lên nét đẹp nữ tính của phụ nữ miền sơn cước.
Ngày nay, những vật dụng làm từ quả bầu khô vẫn hiện diện trong đời sống đồng bào các buôn làng Tây Nguyên. Trong thời gian gần đây, khi các hoạt động giao lưu văn hóa, du lịch cộng đồng phát triển, hình ảnh quả bầu khô gắn với văn hóa ẩm thực dân tộc cũng tạo nên những ấn tượng độc đáo với du khách…
Tấn Vịnh
Nguồn: “Báo Đắk Lắk Điện tử”
Bài viết gốc: Xem tại đây